10 phát minh tình cờ đến mức bạn không thể tin được (P2)

Trong kì trước, chúng ta đã có dịp tìm hiểu về 5 phát minh vô cùng quan trọng nhưng lại được tìm ra một cách vô cùng ngẫu nhiên. Vậy những cái tên tiếp theo trong danh sách của chúng ta là gì?

5. Viagra

Thuốc Viagra

Khi nhắc đến những tác dụng phụ, chúng ta thường mặc định chúng đều có hại. Thế nhưng đôi khi chính những tác dụng tưởng chùng như không mong muốn ấy lại có thể tạo nên những phát minh vô cùng quan trọng.

Khi 2 nhà nghiên cứu Simon Campbell và David Roberts tại công ty dược Pfizer bắt đầu nghiên cứu một loại thuốc mới, họ không thể ngờ rằng phát minh của mình lại được sử dụng trong trường hợp hoàn toàn khác biệt. Cả hai phát triển loại thuốc có tên gọi angina với hi vọng dùng để điều trị bệnh huyết áp cao hay các bệnh về tim. Khoảng cuối những năm 1980, agina bắt đầu được đưa vào chương trình cho bệnh nhân dùng thử.

Thật đáng tiếc, loại thuốc này không mang lại hiệu quả như những gì mà các nhà nghiên cứu đã mong đợi. Tuy nhiên, giờ đây, họ lại chuyển sự chú ý của mình sang thứ khác. Theo bản ghi nhận điều trị, rất nhiều các bệnh nhân nam than phiền rằng, sử dụng thuốc khiến dương vật của họ đột nhiên “dựng đứng”. Dĩ nhiên, bằng trực giác nhạy bén, các nhà nghiên cứu ở Pfizer đã không bỏ lỡ cơ hội tìm hiểu ngay về tác dụng phụ “đặc biệt” này.

Ý tưởng ban đầu về 1 loại thuốc chữa cao huyết áp và tim giờ đây không còn nữa. Thay vào đó, công ty tập trung nghiên cứu chế tạo loại thuốc dành cho chứng liệt dương ở nam giới. Cuộc thử nghiệm thành công, đánh dấu sự ra đời của một loại thuốc mới – Viagra, vào năm 1998.

4. Thiết bị điều hòa nhịp tim

Máy điều hòa nhịp tim bên trong cơ thể

Câu chuyện bắt đầu với Wilson Greatbatch, một  kỹ sư có lòng say mê đặc biệt với những mạch điện.

Mục đích nghiên cứu ban đầu của Greatbatch là tìm ra phương pháp chữa trị cho bệnh “chẹn tim”, tình trạng xảy ra khi tim không nhận được tín hiệu từ các dây thần kinh xung quanh để bơm máu một cách chính xác. Không giống như các nhà khoa học khác sử dụng những loại máy to và cồng kềnh để kích thích cơ tim, Greatbatch muốn chế tạo một thiết bị nhỏ hơn để có thể cấy vào trong cơ thể con người.

Tuy nhiên, vào năm 1958, khi đang chế tạo 1 loại máy dao động để ghi nhịp tim tại Đại học Cornell, ông đã vô tình lắp nhầm bóng bán dẫn. Dù nhận thức được sai lầm của mình nhưng Greatbatch vẫn muốn chạy thử chiếc máy xem chuyện gì sẽ xảy ra. Ông bật máy lên và thật bất ngờ,  chiếc máy phát ra 1 âm thanh vô cùng quen thuộc, giống như nhịp đập của trái tim.

Phát minh này, được biết đến dưới cái tên thiết bị điều hòa nhịp tim, thực sự rất phù hợp để truyền những tín hiệu nhịp đập đến trái tim. Greatbatch thử nghiệm thiết bị trên động vật và thực hiện một số điều chỉnh cho phù hợp. Đến năm 1960, thiết bị này chính thức được cấy vào cơ thể con người.

3. Dải khóa dán

Dải khóa dán Velcro

Đâu là điểm chung giữa dải khóa dán Velcro, lông chó và cây ké đầu ngựa? Thoạt tiên, hầu hết mọi người đều cho rằng những cái tên này hoàn toàn chẳng có mối liên hệ gì đến nhau. Thế nhưng, câu chuyện sau đây chắc chắn sẽ khiến các bạn phải suy nghĩ lại.

Một ngày đẹp trời nọ, George De Mestral, một kỹ sư điện, cùng chú chó cưng đi dạo. Sau khi về đến nhà, De Mestral phát hiện ra các quả ké đầu ngựa bám đầy trên lông người bạn đồng hành của mình. Rất ngạc nhiên với điều này nên ông đã quyết định quan sát những hạt cây dưới kính hiển vi.

Mestral phát hiện ra rằng, mỗi quả ké đầu ngựa có hàng ngàn chiếc móc nhỏ xíu giúp chúng có thể dễ dàng bám lên quần áo cũng như lông động vật. Hiểu được điều này, ông bắt đầu mày mò cách tạo ra những chiếc móc dính với đủ các loại chất liệu khác nhau. Năm 1955, De Mestral lựa chọn nylon làm nguyên liệu phù hợp nhất cho phát minh ngẫu nhiên của mình, và đặt tên nó là Velcro. Ngày nay, chúng ta vẫn sử dụng dải khóa dán Velcro, hay những sản phẩm khóa dán tương tự trong cuộc sống thường nhật.

2. Penicillin

Thuốc kháng sinh penicillin

Chắc chắn sẽ là thiếu sót rất lớn nếu như trong danh sách này thiếu đi cái tên penicillin – một trong những tiến bộ vĩ đại nhất của nền y học.

Mọi chuyện đến rất tình cờ với Alexander Fleming, 1 nhà vi khuẩn học người Scotland, khi ông là người đầu tiên tạo ra penicillin trong phòng thí nghiệm của mình. Trở về nhà từ kì nghỉ 2 tuần vào năm 1928, Fleming phát hiện ra hộp lồng của mình đã trở thành nơi cư trú của một loại nấm mốc bý ẩn. Lạ lùng hơn, ông nhận thấy các vi khuẩn tồn tại trong lồng không xuất hiện ở những nơi nấm mốc mọc lên, điều này chỉ ra rằng có thể nấm mốc đang ngăn chặn các vi sinh vật không mong muốn. Fleming liền cách li, phân loại và dán nhãn cho loại nấm mới. Tuy nhiên, để chế tạo chúng với số lượng lớn lại không phải là điều dễ dàng.

Chính vì vậy, phát minh của Fleming chưa thể được ứng dụng vào điều trị ngay lập tức. Thậm chí nó còn có nguy cơ rơi vào lãng quên nếu như không có những nhà nghiên cứu khác.

Năm 1941, Howard Florey, Norman Heatley và Andrew Moyer một lần nữa khiến người ta phải nhắc đến cái tên penicillin khi họ phát triển được loại nấm mới – giống như loại nấm của Fleming – nhưng lại mọc tốt hơn, cung cấp đủ mẫu thí ngiệm dành cho điều trị. Và thế là, penicillin đã được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới.

1.  Thuốc gây tê

Thuốc gây tê dùng trong điều trị

Nếu như không có phát minh cuối cùng này thì chắc chắn điều trị y khoa sẽ thực sự là cơn ác mộng đối với nhiều người bởi nỗi đau đớn mà nó gây ra – theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Và mặc dù người thực sự tìm ra thuốc gây tê vẫn còn là điều đang gây tranh cãi, nhưng những người góp phần vào việc phát triển loại thuốc này đều lấy ý tưởng từ những quan sát rất tình cờ.

Crawford Long, William Morton, Charles Jackson và Horace Wells đều là những cái tên gắn liền với thuốc mê. Những nhà khoa học này quan sát thấy, trong một số trường hợp, khi người bệnh hít phải khí ether và NO (khí gây cười), họ cảm thấy cơn đau như được giảm bớt.

Một ví dụ điển hình cho điều này là vào năm 1844, Horace Wells tham dự một chương trình biểu diễn và chứng kiến 1 người tham gia bị thương trong khi hít phải khí cười. Thế nhưng thậm chí ngay cả với chiếc chân ròng ròng máu chảy, người đàn ông vẫn nói với Wells rằng anh ta chẳng cảm thấy đau đớn gì cả.

Sau này, Wells sử dụng hợp chất này như thuốc gây tê khi nhổ răng. Kể từ đó, thuốc gây tê bắt đầu được sử dụng trong việc sản xuất y dược và phẫu thuật.

“>>10 phát minh tình cờ đến mức bạn không thể tin được (P1)”

Nguồn: http://science.howstuffworks.com

CuRua @ MES Lab., biên dịch

Authors

Related posts

*

Top