Những loại thuốc không được uống chung với nhau

Ngay cả những loại thuốc bình thường và thông dụng nhất vẫn có thể có phản ứng với những loại thuốc khác khi được uống chung với nhau. Làm thế nào để biết những loại thuốc nào không được uống chung? Tốt nhất là nên hỏi ý kiến dược sỹ hoặc bác sỹ thật kỹ trước khi sử dụng. Tuy nhiên, Khoa học 247 xin cung cấp một vài trường hợp thông dụng nhất mà mỗi chúng ta đều nên biết.

Ngay cả những loại thuốc bình thường và thông dụng nhất vẫn có thể có phản ứng với những loại thuốc khác khi được uống chung với nhau. Làm thế nào để biết những loại thuốc nào không được uống chung?

Ngay cả những loại thuốc bình thường và thông dụng nhất vẫn có thể có phản ứng với những loại thuốc khác khi được uống chung với nhau. Làm thế nào để biết những loại thuốc nào không được uống chung?

1. Nguyên tắc chung khi uống thuốc

Nguyên tắc chung khi uống thuốc là không nên uống nhiều loại thuốc cùng lúc. Mỗi một loại thuốc có một tính năng và công hiệu riêng, nó có những tính chất và phản ứng khác nhau, có tác dụng đối với các bộ phận trong cơ thể con người và có công hiệu trong thời gian cũng khác nhau. Do đó, nếu uống nhiều loại thuốc cùng một lúc thì sẽ làm ảnh hưởng đến việc hấp thu, phân bố, trao đổi giữa các thuốc và sự đào thải thuốc ra ngoài cơ thể, cũng như sự kết hợp giữa các loại thuốc với nhau.

Có một số loại thuốc khi dùng chung làm tăng tác dụng của nhau dẫn đến hiện tượng quá liều trong khi vẫn uống đúng liều. Một số loại thuốc khác thì lại làm giảm tác dụng của nhau mà điều này thì tương đương với việc uống thuốc không đủ liều.

Ví dụ, nếu loại thuốc có chất chua uống cùng với thuốc kháng sinh, thì nó sẽ làm giảm công hiệu của thuốc, hai loại thuốc này nên uống cách nhau 2 – 3 giờ. Vì vậy, nếu bắt buộc phải uống nhiều loại thuốc thì nhất định phải sắp xếp thời gian và số lần cho hợp lý, uống mỗi một loại thuốc ít nhất là phải cách nhau khoảng một giờ.

Ngoài ra, khi uống thuốc, tốt nhất là dùng nước lọc để uống. Khi uống thuốc với nhiều nước, là tạo ra một dung dịch thuốc được pha loãng với một thể tích lớn trong dạ dày, từ đó tạo nên áp suất lớn giúp cho dạ dày tiêu hóa và đẩy thuốc đi xuống ruột nhanh hơn và dung dịch thuốc được hấp thu nhanh chóng, hiệu quả điều trị của thuốc được kịp thời.

2. Thuốc hạ áp với dầu cá và viên canxi

Khi uống chung thuốc hạ áp với các viên dầu cá có thể có sự tương tác, làm tăng cường hiệu quả hạ áp quá mức, khiến huyết áp bị hạ xuống quá thấp. Điều này có thể gây nguy hiểm cho người uống, làm chóng mặt, mất thăng bằng. Do vậy, không uống chung thuốc hạ áp với các viên dầu cá.

Ngoài ra, không dùng thuốc hạ huyết áp và thuốc bổ sung canxi. Canxi là một thành phần quan trọng của cơ thể góp phần vào cơ chế gây co cơ trơn thành mạch và gây tăng huyết áp. Và một trong các thuốc điều trị huyết áp theo nguyên lý chống lại cơ chế này đó là thuốc chẹn canxi. Chúng sẽ ngăn canxi không cho đi vào hệ thống cơ trơn thành mạch, giảm tối đa sự co thắt mạch và do đó hạ được huyết áp bệnh lý. Vì vậy, nếu như bạn đang dùng thuốc hạ huyết áp nhóm thuốc chẹn canxi thì tốt nhất nên tạm thời dừng uống thuốc bổ sung canxi.

Khi dùng kháng sinh tetracyclin thì tuyệt đối không bổ sung canxi vào cơ thể. Canxi làm cho xương khỏe mạnh nhưng nó lại chẳng thể làm bạn với tetracyclin. Trong trường hợp dùng canxi liều cao, canxi làm cho thuốc bị kết tủa theo kiểu tạo chelat, một kiểu kết hợp thuốc với kim loại. Hậu quả thuốc không thể hòa tan và rất khó đi vào cơ thể.

Canxi làm cho xương khỏe mạnh nhưng nó lại chẳng thể làm bạn với tetracyclin

Canxi làm cho xương khỏe mạnh nhưng nó lại chẳng thể làm bạn với tetracyclin

3. Khi dùng thuốc chống đông thì không được dùng vitamin K

Một số bệnh nhân bị bệnh liên quan đến hệ thống đông máu nên phải dùng thuốc chống đông liên tục và kéo dài. Ví dụ như các bệnh nhân bị bệnh nhồi máu cơ tim, đột quỵ não thể nhồi máu, bệnh nhân ghép tạng… Một thuốc tuyệt đối cấm kỵ đối với bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông đó là vitamin K. Cần phải nhớ rằng vitamin K là một thành tố quan trọng trong chuỗi chu trình đông máu, gây nên tác dụng trái ngược với thuốc chống đông.

4. Khi dùng kháng sinh thì không được truyền đạm

Điều cơ bản nhất trong dùng thuốc kháng sinh là phải đủ liều lượng, mà cụ thể ở đây là liều lượng được thể hiện bằng nồng độ kháng sinh trong máu. Chỉ cần giảm nồng độ thuốc hoạt hóa thì sẽ làm giảm hiệu lực tiêu diệt vi khuẩn.

Không phải thuốc vào cơ thể là tác dụng ngay. Phần lớn thuốc được kết hợp với protein trong máu và trở nên không có hoạt tính diệt khuẩn. Chúng là một dạng dự trữ thuốc. Phần nhỏ thuốc tồn tại ở dạng tự do và dạng này mới là dạng chính để thể hiện tác dụng. Khi đang dùng kháng sinh điều trị, việc truyền đạm vào sẽ làm tăng nồng độ đạm trong cơ thể. Hệ quả là tăng chất gắn kết thuốc làm giảm nồng độ thuốc ở dạng hoạt hóa. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu lực điều trị.

5. Vitamin D với thuốc hạ cholesterol

Việc uống chung các viên bổ sung vitamin D với những loại thuốc làm hạ cholesterol như Lipitor sẽ làm mất hiệu quả của việc giảm cholesterol. Ngoài ra, dùng vitamin D liều cao chung với các loại thuốc lợi tiểu sẽ tạo ra quá nhiều canxi trong cơ thể, có thể dẫn tới các chứng bệnh về thận.

6. Vitamin D và thuốc ức chế mật

Vitamin D rất cần dịch mật để hấp thu. Đó là vì vitamin D tan trong dầu, mà dầu lại được hòa tan bởi dịch mật. Không có dịch mật thì sẽ dẫn đến không thể có vitamin D trong cơ thể. Thuốc ức chế tiết mật đã làm giảm tiết mật tương đối nhiều và do đó chúng sẽ có làm ức chế hấp thu vitamin D. Chính vì vậy, đang dùng vitamin D thì không được dùng thuốc chống tiết mật. Hoặc nếu phải dùng thuốc chống tiết mật, nên dừng vitamin D lại vì có dùng cũng chỉ có phí phạm mà thôi.

Vitamin D rất cần dịch mật để hấp thu. Đó là vì vitamin D tan trong dầu, mà dầu lại được hòa tan bởi dịch mật. Không có dịch mật thì sẽ dẫn đến không thể có vitamin D trong cơ thể

Vitamin D rất cần dịch mật để hấp thu. Đó là vì vitamin D tan trong dầu, mà dầu lại được hòa tan bởi dịch mật. Không có dịch mật thì sẽ dẫn đến không thể có vitamin D trong cơ thể

7. Thuốc nội tiết Melatonin và thuốc ngủ

Thuốc nội tiết melatonin có ảnh hưởng khiến chúng ta cảm thấy buồn ngủ. Do vậy, nếu dùng chung thuốc nội tiết Melatonin với những loại thuốc gây buồn ngủ hoặc có tác dụng phụ gây buồn ngủ như thuốc trị cảm cúm, thuốc chống say xe,… sẽ làm cho chúng ta bị buồn ngủ quá mức. Nên thận trọng.

Ngoài ra, thuốc nội tiết melatonin làm chậm quá trình tạo thành máu cục, máu đông. Do vậy, nếu uống đồng thời thuốc này với những loại thuốc chống đông máu khác thì sẽ làm tăng cường tác dụng thuốc quá mức, gây chảy máu.

Thuốc là người bạn giúp con người chống lại bệnh tật, nâng cao sức khoẻ. Nhưng nếu không được sử dụng đúng cách, thuốc lại có thể trở thành con dao hai lưỡi, làm tổn hại đến sức khoẻ chúng ta. Hãy là người tiêu dùng thông thái và đừng quên luôn đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng thuốc. Chúc các bạn thành công.

Lan Giao @ Khoa học 247., Biên soạn

Authors

*

Top